Không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ, bị xử lý thế nào?

Trường hợp quân nhân dự bị có lệnh gọi nhập ngũ nhưng không chấp hành sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật. Trong bài viết dưới đây sẽ làm rõ các mức phạt Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ.

1. Quân nhân dự bị gồm những ai?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Lực lượng dự bị động viên 2019 quy định, quân nhân dự bị gồm:

- Sĩ quan dự bị;

- Quân nhân chuyên nghiệp dự bị;

- Hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị.

Những người này được đăng ký theo quy định của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, Luật Nghĩa vụ quân sự.

Theo đó, trách nhiệm của quân nhân dự bị được xếp trong đơn vị dự bị động viên như sau:

- Kiểm tra sức khỏe;

- Thực hiện lệnh gọi huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu;

- Thực hiện chế độ sinh hoạt đơn vị dự bị động viên và nhiệm vụ do người chỉ huy giao;

- Thực hiện lệnh huy động để bổ sung cho lực lượng thường trực của Quân đội nhân dân.

Như vậy, với quân nhân dự bị được xếp trong đơn vị dự bị động viên có trách nhiệm thực hiện lệnh gọi huấn luyện, lệnh huy động bổ sung cho lực lượng thường trực của Quân đội nhân dân. Do đó, trường hợp không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, quân nhân dự bị sẽ bị xử phạt theo quy định pháp luật.

2. Quân nhân dự bị không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ bị xử lý thế nào?

Theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Hình sự 2015, người nào là quân nhân dự bị mà không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ trong trường hợp dưới đây có thể bị xử lý hình sự về Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ:

- Có lệnh tổng động viên, lệnh động viên cục bộ, có chiến tranh; hoặc

- Có nhu cầu tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội để chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Theo đó, mức phạt với Tội này được quy định như sau:

- Khung 01:

Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

- Khung 02:

Phạt tù từ 02 - 07 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

+ Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình;

+ Lôi kéo người khác phạm tội.

Nguồn: Luật Việt Nam - Ngày cập nhật: 05/07/2022.